Kết quả tổng hợp
0
/ 42 điểm NIHSS
● Không triệu chứng (0)
● Nhẹ (1–4)
● Trung bình (5–15)
● T.bình–nặng (16–20)
● Nặng (21–42)
Chưa đánh giá
Vui lòng hoàn thành tất cả mục để có kết quả đánh giá.
| Mục | Nội dung | Điểm | Tối đa |
|---|
Kết quả này chỉ mang tính chất hỗ trợ lâm sàng. Bác sĩ cần kết hợp với bệnh sử, thăm khám và cận lâm sàng để ra quyết định điều trị.
Chỉ định điều trị cửa sổ 4,5 giờ
- Tuổi trên 18 tuổi, VÀ
- Chẩn đoán đột quỵ thiếu máu não với các dấu hiệu thiếu sót về thần kinh rõ ràng và định lượng được, VÀ
- Các triệu chứng khởi phát đột quỵ rõ ràng dưới 270 phút trước khi dùng thuốc tiêu sợi huyết.
Chỉ định điều trị tiêu sợi huyết cửa sổ mở rộng
- Tuổi trên 18 tuổi, VÀ
- Chẩn đoán đột quỵ thiếu máu não với các dấu hiệu thiếu sót về thần kinh rõ ràng và định lượng được, VÀ
- Một trong các nhóm tiêu chuẩn sau:
Nhóm 1 — Nhồi máu não lúc thức giấc, có chụp cộng hưởng từ sọ não
- Trong vòng 4,5 giờ từ khi phát hiện đột quỵ.
- Có thay đổi tín hiệu trên DWI nhưng không có tổn thương trên FLAIR.
- Tổn thương trên DWI ≤ 1/3 vùng cấp máu của động mạch não giữa.
- NIHSS ≤ 25.
- Không có kế hoạch can thiệp lấy huyết khối đường động mạch.
Nhóm 2 — Nhồi máu não lúc thức giấc, có chụp tưới máu não
- Trong vòng 9 giờ kể từ điểm giữa giấc ngủ.
- Có bất tương xứng giữa lõi nhồi máu và vùng giảm tưới máu trên CT/MRI tưới máu não (thể tích lõi nhồi máu <70mL; tỷ lệ vùng giảm tưới máu/lõi nhồi máu >1,2; vùng tranh tối tranh sáng >10mL).
- Không có kế hoạch can thiệp lấy huyết khối đường động mạch.
Nhóm 3 — Nhồi máu não khởi phát 4,5 – 9 giờ
- Có bất tương xứng giữa lõi nhồi máu và vùng giảm tưới máu trên CT/MRI tưới máu não (thể tích lõi nhồi máu <70mL; tỷ lệ vùng giảm tưới máu/lõi nhồi máu >1,2; vùng tranh tối tranh sáng >10mL).
- Không có kế hoạch can thiệp lấy huyết khối đường động mạch.
- Tiền sử chấn thương đầu nghiêm trọng trong vòng 3 tháng.
- Chảy máu não hoặc tiền sử chảy máu não.
- Triệu chứng gợi ý xuất huyết dưới nhện.
- Phẫu thuật nội sọ, hoặc tủy sống trong vòng 3 tháng.
- Chảy máu trong đang hoạt động, chảy máu tạng cấp.
- Ung thư đường tiêu hóa hoặc chảy máu tiêu hóa trong vòng 21 ngày.
- Tăng huyết áp chưa kiểm soát được (huyết áp tâm thu ≥ 185 mmHg hoặc huyết áp tâm trương ≥ 110 mmHg).
- Số lượng tiểu cầu < 100 G/L.
- Đang sử dụng thuốc chống đông với INR > 1,7 hoặc PT > 15 giây.
- Sử dụng Heparin với aPTT > 40s hoặc heparin trọng lượng phân tử thấp liều điều trị.
- Đang sử dụng thuốc chống đông ức chế thrombin hoặc ức chế trực tiếp yếu tố Xa (NOACs) với bằng chứng ảnh hưởng đến đông máu như kéo dài APTT, INR, ECT, TT hoặc anti-Xa.
- Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
- Lóc tách quai động mạch chủ và động mạch não đoạn nội sọ.
- U nội sọ trong trục.
- Chọc dò động mạch ở những vị trí không thể ép được trong vòng 7 ngày.
- Nhồi máu não diện rộng (vùng tổn thương > 1/3 bán cầu).
- Tiền sử nhồi máu cơ tim ST chênh lên trong vòng 7 ngày.
- Chống chỉ định thêm tại cửa sổ điều trị 3 – 4,5 giờ: đột quỵ nặng với điểm NIHSS > 25.
- Đột quỵ não nhẹ với khiếm khuyết thần kinh gây tàn phế.
- Tiền sử nhồi máu não trong vòng 3 tháng.
- Khởi phát có dấu hiệu co giật.
- Đường máu < 50 mg/dL (< 2,8 mmol/L).
- Tiền sử chấn thương lớn, phẫu thuật lớn trong vòng 14 ngày không liên quan vùng đầu.
- Tiền sử chảy máu tiêu hóa hoặc đường tiết niệu (trừ trường hợp chảy máu đường tiêu hóa trong vòng 21 ngày).
- Có bệnh lý nội sọ (khối u tân sinh ngoài trục, dị dạng động tĩnh mạch hoặc túi phình mạch).
- Nhồi máu cơ tim trong vòng 3 tháng (trừ trường hợp nhồi máu cơ tim ST chênh lên trong vòng 7 ngày).
- Phụ nữ có thai, phụ nữ trong giai đoạn hậu sản hoặc phụ nữ đang hành kinh.
- Trẻ em dưới 18 tuổi.
Lưu ý: với các trường hợp có chống chỉ định tương đối, tùy thuộc vào tình trạng bệnh nhân, điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị hỗ trợ, bác sĩ lâm sàng có thể đánh giá lợi ích – nguy cơ của biện pháp điều trị tiêu sợi huyết. Điều trị tiêu sợi huyết có thể được tiến hành nếu cân nhắc lợi ích vượt trội hơn nguy cơ và giải thích kỹ càng với người bệnh/thân nhân người bệnh.
kg
Nhập cân nặng để tính liều.
Công cụ chỉ hỗ trợ tính toán liều theo cân nặng. Bác sĩ cần tự kiểm tra lại chỉ định, chống chỉ định và liều lượng trước khi sử dụng thuốc.